Nghiên cứu khoa học

(+84) 24 3228 3003

GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP VIỆT NAM TRƯỚC YÊU CẦU HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP VIỆT NAM TRƯỚC YÊU CẦU HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

– Phó Viện Trưởng: Nguyễn Anh Quân –

  1. Cơ hội và thách thức

Các Quy chế thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) tạo ra cho Việt Nam cơ hội thấy rõ, thể hiện trên một số mặt như:

– Lực lượng lao động được “giải phóng”, tự do di chuyển trong thị trường chung, đặc biệt là nguồn nhân lực được đào tạo chuyên môn hoặc có trình độ từ đại học trở lên, thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh;

– Một số nước như Singapore, Malaysia đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động kỹ thuật do người lao động bản địa đang lệch hướng sang các lĩnh vực về tài chính ngân hàng, marketing; đây là cơ hội mở ra cho Việt Nam đáp ứng nhu cầu thiếu hụt này;

– Nhiều cơ hội việc làm mới sẽ được tạo ra, giúp thanh niên thấy được sự phát triển của cơ hội việc làm, từ đó có thể lựa chọn ngành, nghề phù hợp.

Mặt khác, ASEAN đang đối mặt với nhiều thách thức đến từ sự khác biệt nhiều về mức độ phát triển, văn hóa, cơ cấu nhân chủng học… của các thành viên khi triển khai các MRA. Hệ quả dẫn đến sự khác biệt về thời gian trong hoàn thành các mục tiêu và các nguyên tắc cốt lõi của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) như sự đồng thuận, không can thiệp, dựa vào tham vấn… Rõ ràng, các nền kinh tế kém phát triển hơn không thể thực hiện các mục tiêu theo lộ trình giống như các nước có trình độ phát triển cao hơn, nên việc hoàn thành các trụ cột giữa các thành viên cần có lộ trình thực hiện linh hoạt, mềm dẻo. Cùng với những cơ hội có thể thấy rõ, lao động Việt Nam nói chung và đào tạo nghề của Việt Nam nói riêng, tham gia vào AEC sẽ phải đối mặt với những thách thức đến từ việc tham gia các MRA:

– Hiện tại Việt Nam dù đã áp dụng “chuẩn đầu ra” trong đào tạo nghề nhưng nội dung đào tạo vẫn chưa thực sự phù hợp, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

– Chương trình, giáo trình đào tạo nghề lạc hậu, còn mang nặng lý thuyết, thiếu thực hành.

– Lao động Việt Nam tuy nhiều về số lượng nhưng chất lượng thấp về trình độ chuyên môn và các kỹ năng; và chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn;

– Nguồn lao động có chuyên môn trong nước còn ít và là nhóm đang có nguy cơ bị “chảy máu chất xám” cao;

– Lao động Việt Nam được đánh giá trong khu vực là kém cạnh tranh về năng suất lao động (NSLĐ), trình độ kỹ năng và ngoại ngữ. NSLĐ của Việt Nam dù liên tục tăng trong thời gian qua nhưng còn thấp. Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á. Chất lượng lao động, NSLĐ thấp càng trở thành vẫn đề cấp bách khi Việt Nam triển khai thực hiện các MRA;

– Lao động Việt Nam phải cạnh tranh với lao động chất lượng cao ở một số nước có trình độ phát triển cao hơn trong AEC, như Malaysia, Singapore, Thái Lan.

  1. Một số kiến nghị

– Đẩy nhanh công tác triển khai và đánh giá theo chuẩn nghề ASEAN và chuẩn nghề quốc tế

Hệ thống dạy nghề hiện nay của Việt Nam dù đã đạt tiêu chuẩn nghề ASEAN và chuẩn nghề quốc tế nhưng thực tế chúng ta chưa triển khai đánh giá theo chuẩn cho tất cả các ngành/nghề đã được quy ước trong Thỏa thuận chung. Cần nhanh chóng hoàn thiện Khung trình độ quốc gia theo hướng tương thích với Khung trình độ của các nước trong khối ASEAN và các nước tiên tiến trên thế giới. Khi khung trình độ và các tiêu chuẩn kỹ năng nghề cùng tương thích, kỹ năng nghề quốc gia sẽ tiếp cận được kỹ năng nghề khu vực và quốc tế.

– Hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh hoạt động dạy nghề

Ban hành các văn bản dưới luật về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động dạy nghề, ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp;

Nâng cao nhận thức về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với dạy nghề; các doanh nghiệp cần ý thức rằng sự phát triển bền vững của doanh nghiệp cũng cần dựa trên cơ sở nâng cao trình độ đào tạo nghề cho lao động; trách nhiệm nâng cao tay nghề cho người lao động không chỉ thuộc về người lao động, cơ sở đào tạo mà bản thân các doanh nghiệp cũng cần phải chung tay chia sẻ.

– Về cơ chế chính sách đối với giáo viên dạy nghề

Áp dụng chính sách đãi ngộ thỏa đáng nhằm tạo ra sự gắn bó, tâm huyết với nghề nghiệp, trong đó tiền lương đối với giáo viên dạy nghề cần được đổi mới mạnh mẽ;

Cần ban hành chức danh nghề nghiệp riêng cho giáo viên dạy nghề;

Có chính sách đủ mạnh để khuyến khích và huy động doanh nghiệp tham gia đào tạo, bồi dưỡng GVDN./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế-xã hội quốc gia: Đào tạo nghề trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của Cộng đồng kinh tế ASEAN.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2016): Bản tin cập nhật thị trường Lao động Việt Nam. Số 10 – 11, quý II – III năm 2016.

Viện Nghiên cứu khoa học dạy nghề (2016): Báo cáo dạy nghề Việt Nam 2013-2014

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin tức liên quan